Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Mối tình “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu


Mối tình “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu


truong lac hoang hau.jpg
TS Phạm Trọng Chánh
            Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II.  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện tình tuyệt đẹp, giữa vị  vua anh minh tài năng xuất chúng hàng đầu lịch sử Việt Nam,  và cũng là vua thơ Nôm.   Trường Lạc Hoàng Hậu là con gái Nguyễn Trãi. Hai cuộc đời gian nan thời thơ ấu và gặp nhau trong một tình huống lạ lùng. Thuở nhỏ mẹ con vua Lê Thánh Tông, bà Ngô Thị Ngọc Dao  bị hoàng phi Nguyễn Ngọc Anh ghen ghét vu hãm buộc tội đòi cho voi dày, được Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bênh vực che chỡ. Về sau  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị vu cáo là giết vua bị tru di tam tộc, con trai 49 người bị chém, con gái bị sung vào làm nô tì. Nguyễn Thị Lộ, 52 tuổi, quan Lễ Nghi Học Sĩ thầy dạy của Thái từ Nguyên Long ( vua Lê Thái Tôn) từ năm 7 tuổi, đã dạy dỗ một cậu bé ngỗ nghịch, các quan khác không ai dạy được, thành vị vua anh minh sáng suốt như vua Thuấn (theo sử gia Vũ Quỳnh) thế mà  bị vu cáo nhơ bẩn ngủ với học trò mình mới mười tám tuổi, nên vua bị « thượng mã phong », bà  bị trấn nước  dìm cũi xuống sông và «  hóa thành con rắn ». Có người con gái của Nguyễn Trãi, con một thứ thiếp, mới lên ba,  tên Nguyễn thị Hằng, được một vị quan nuôi dưỡng, bị sung vào đội nữ nhạc, tư sắc tuyệt đẹp tuổi 17, 18 mà không biết nói. Khi vua Lê Thánh Tông lên làm vua, nên chỉ ngồi gõ phách. Khi vào tiệc yến hầu, vị tân vương vừa bước lên ngự toạ. Người con gái bỗng cầm phách hát. Vua liền hỏi chuyện, thu nạp vào hậu cung, sách lập làm Trường Lạc Hoàng Hậu.
Một chuyện tình tuyệt đẹp, đáng viết thành truyện phim, thành kịch bản sân khấu, thành tiểu thuyết.  Danh dự của Nguyễn thị Lộ, và Nguyễn Trãi đã được vua Lê Thánh Tông thanh minh, rửa sạch từ lâu, thế mà nước ta người đời cứ lãi nhãi những chuyện vu cáo độc ác, những chuyện vô căn cứ ?
Chuyện Vua Lê Thánh Tông, Phạm Đình Hổ   trong Tang thương ngẫu lục,  chép như sau :
« Đức Quang Thục Hoàng Thái Hậu Tiền triều (Ngô Thị Ngọc Dao) thuở còn hàn vi, ngụ tại phía tây nam nhà Quốc Tử Giám. Nơi đây, nước hồ bao bọc chung quanh nhà, các thầy tướng số đều cho là có vượng khí của Thiên Tử. Vì có họ hàng với các phi tần trong cung, bà thường đi lại chơi trong cung điện. Vua Thái Tông (1434 – 1442) trông thấy yêu thương, khi về có mang. Đến kỳ năm giường cữ, bà sinh được một con trai (Tư Thành), thiên tư tuyệt lạ. Thuở nhỏ, theo mẹ ở lẩn quẩn trong đám thường dân, nhưng được nổi tiếng về văn học. Vua Thái Tông nghe tin liền với đến, phong cho tước vương.
Sau nhân khi Lạng Sơn Lệ  Đức Hầu (Nghi Dân) bị phế, các đại thần liền đón rước vị vương này,  lập nên làm vua tức là vua Thánh Tông (1460-1497).  Vua thường đến thăm chỗ ngôi nhà cũ của Thái hậu, rồi cho xây điện Hy Văn, và dựng xây ngôi chùa Dục Khánh ở bên cạnh.
Khi trước Thái Hậu có mang, chiêm bao đến chỗ Thượng Đế, thấy Thượng Đế sai một vị Tiên Đồng giáng lâm vào làm vua nước Nam, và cho một người Ngọc Nữ theo xuống để sánh đôi. Tiên Đồng do dự, không vâng chỉ ngay. Thượng đế giận, ném viên ngọc khuê làm sây sát ở trán. Tiên Đồng dập đầu lạy tạ, và xin ban cho một người giúp việc. Thượng Đế  trỏ một viên trong các quan, cho đi theo giúp việc. Viên ấy cúi đầu lạy xin cố từ. Ngài đập vai không cho. Lúc tỉnh giấc thì sinh ra vua Thánh Tông, vết ngọc khuê trên trán hãy còn rõ rệt.
Khi đã lên ngôi đại bảo, vua tôn bà mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu và thường cho dò tìm người trong chiêm bao. Chưa gặp, lòng vẫn không vui.
Khoảng đầu niên hiệu Thái Hoà (1443 -1453) (Triều vua Lê Nhân Tôn).  Tế Văn Hầu Nguyễn Trãi phải tội, có người con gái bị bắt vào quan, sung vào hàng nữ nhạc. Người con gái ấy tư sắc tuyệt đẹp, tuổi đã 17, 18 mà không biết nói. Đến nay theo đồng bạn vào cung hầu yến, vì câm nên chỉ ngồi gõ phách.  Khi vua bước lên Ngự tọa, Người con gái bỗng cầm phách hát :
« Hẹn nhau từ thuở thiên đình,
Lòng nào nỡ phụ tâm tình thế ru. »
Tiếng hát du dương, dư âm dường quấn quanh trên rường, như khúc hát Quân Thiên, điệu hát trên Đế Đình. Vua lấy làm lạ hỏi, thì người con gái nói năng giống hệt  người Ngọc Nữ trên chỗ Thượng Đế.  Vua liền thu nạp vào hậu cung, sách lập làm Trường Lạc Hoàng Hậu.
Khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận (1463) thứ tư ngày truyền lô thi Đình. Trạng Nguyên Lương Thế Vinh bái yết, hai vai hơi lệch không được ngay ngắn. Vua kinh dị sai vào bái yết Hoàng Thái Hậu. Thái Hậu nhìn ra hình mạo Lương đúng người trong mộng trên Đế Đình khi trước. Hai Cung Thái Hậu và Vua đều rất vui vẻ. Vua bèn trao cho Lương chức Hàn Lâm thị Độc, dự vào hàng 28 ngôi sao trên Tao Đàn. Những thơ văn xướng họa có ghi chép trong các Thiên Nam dư hạ và bức đồ Bình Nam Chỉ Chưởng.
Chùa Dục Khánh sau lầm là chùa Hoa Văn. Điện ở phía tả thờ Thần Khâm đức Quang Thục Hoàng Thái Hậu. Khoảng năm Dương Đức, đời Trung Hưng (1672 -1673). Tây cung Hoàng Thái Hậu chữa lại chùa Khán Sơn, phía hữu chính điện thờ ngự dung đức Thần Tông Uyên Hoàng Đế. Từ hồi thay  đồi triều vua trở về sau, chùa Khán Sơn đổ nát, Ngự dung thiên đến chùa Dục Khánh, nay ở gian hữu tiền đường. »
Theo Tự Điển Danh nhân Việt Nam của Nguyễn Q Thắng :    Vua Lê Thánh Tông (1442-1797), là vị vua thứ tư nhà Hậu Lê, tên Lê Tư Thành, còn có tên húy khác là Hạo. Con vua Lê Thái Tông và bà Ngô thị Ngọc Dao. Lúc trước được phong Bình Nguyên Vương, sau đổi là Gia Vương. Đến khi Lê Nghi Dân bị truất phế (1458) ông được Nguyễn Xí cùng các đại thần đưa lên ngôi năm 1460 lúc 18 tuổi.
Là vị vua thông minh sáng suốt, thông hiểu nhiều môn học thuật. Triều đại thịnh vượng, hoàn thành những cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa. Bộ Luật Hồng Đức, chiến thắng Chiêm Thành là những thành tựu sáng chói và hiển hách trong lịch sử. Về văn học nhà vua lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, gồm 28 vị Đại Thần đứng đầu, mà ngài là Tao Đàn Nguyên Soái.. Nhà Vua còn  ký tên là Thiên Nam Động Chủ hay Đạo Am chủ nhân trong nhiều tác phẩm khắc trên bia đá khắp nước.
Nhà vua làm thơ khá nhiều, cùng bạn tao đàn xướng họa và lưu lại nhiều tác phẩm : Thiên Nam Dư hạ tập –Lê Thánh Tông thi tập – Hồng Đức Quốc Âm thi tập -Xuân Vân thi tập -Cổ tân bách vịnh -Quỳnh Uyển cửu ca –Minh lương cẩm tú –Văn minh cổ súy –Châu cơ thăng thương –Sĩ hoạn châm qui -Hồng Đức thiện chính thư. Là những tác phẩm sáng giá trong kho tàng văn học dân tộc.
Thời đại Vua Lê Thánh Tông là một thời đại thịnh trị, một vị vua văn võ song toàn.
Vua Lê Thánh Tông, là Vua thơ Nôm, địa vị ấy không ai có thể tranh cải được. Vua trên thực tế, và vua trong thành tựu sáng tác văn học, nhưng từ đầu thế kỷ 20, nhiều tác phẩm của nhà vua được gán cho Hồ Xuân Hương, có tác phẩm bị sửa đổi một vài chữ. Hồ Xuân Hương đã được Lê Tâm, Xuân Diệu gán cho cái tên Bà Chúa thơ Nôm. Ngày nay sách vở bia đá rõ ràng làm bằng cớ, của vua Lê Thánh Tôn phải trả lại cho nhà vua và nhất là phải trả lại cho nhà vua cái danh  «  Ông Vua thơ Nôm ».
Hồ Xuân Hương không là vua, chúa của ai cả, nếu tác phẩm vua Lê Thánh Tông lẫn lộn trong di cảo do con cháu Tử Minh sưu tập tại làng Nghi Tàm, chỉ vì đó là những bài thơ Hồ Xuân Hương yêu thích. Hồ Xuân Hương chỉ là học trò học làm thơ với thơ vua Lê. Những điều lâu nay ta vinh danh cho Hồ Xuân Hương, nay phải vinh danh vua Lê Thánh Tông, Hồ Xuân Hương không hề đạo văn, và chỉ có đời sau gán ghép sai lầm.
Bài thơ CHỢ TRỜI được khắc vào đá núi Thầy, Sài Sơn dưới có ghi rõ :  « Đề năm Hồng Đức thứ bảy  »(1476) tác giả là Thiên Nam Động Chủ, tức Vua Lê Thánh Tông.
CHỢ TRỜI
Bầu trời thú lạ cũng nhiều nơi,
Chẳng thú đâu hơn thú Chợ Trời.
Sáng sớm mưa tan, trưa nắng đứng,
Chiều hôm mây họp, tối trăng chơi.
Hàng bày hoa quả tư mùa sẳn,
Chợ góp giang sơn một thú vui.
Bán lợi mua danh nào những kẻ,
Lại đây mặc cả một đôi lời.
Bài thơ đã tạc vào đá, không thể nhầm lẫn, không thể sửa chữa vài chữ, rồi bảo đó là thơ Hồ Xuân Hương hay hơn thơ vua Lê Thánh Tông, lý luận đó của Xuân Diệu trong bài Bà Chúa Thơ Nôm  trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, nxb Văn Học Hà Nội 1982,  không thể chấp nhận được. Việc đạo văn đó không có cơ sở, và chỉ làm rối loạn thêm các tác phẩm văn học.
Trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập có bài Đánh Đu
ĐÁNH ĐU
Bốn cột lang nha ngắm để trồng,
Ả thì đánh cái ả còn ngong.
Tế hậu thổ lom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng.
 Tám bức quần hồng bay  phấp phới,
Hai hàng chân ngọc đứng song song.
Chơi xuân hết tất xuân dường ấy,
Nhổ cọc đem về, để lỗ không.
Bài Thích Câu chép trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập. Bài này có 4 câu được lập lại trong bài Đền Khán Xuân gán cho  Hồ Xuân Hương.
THÍCH CÂU
Đến đây mến cảnh mến thầy,
Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người.

Ngẫm sự trần duyên khéo nực cười,
Tuy vui đạo Phật chửa khuây người.
Chầy kình mấy khắc tan niềm tục,
Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.
Bể thảm muôn tầm mong tát cạn,
Sông ân nghìn trượng dễ khơi vơi.
Nào là cực lạc nào đâu tá.
Cực lạc là đây hẳn tỏ mười.
Ngoài ra hai bài thơ nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông: bài Thằng Bù nhìn, và Vịnh kẻ ăn mày cũng đã được gán cho Hồ Xuân Hương trong các văn bản in năm 1908. Hai bài thơ này có văn bản trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập cũng phải trả về cho vua Lê Thánh Tông.
            Trên vách đá núi Truyền Đăng còn gọi là núi Bài Thơ Vịnh Hạ Long có khắc bài thơ Vua Lê Thánh Tông. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong bài Hồ Xuân Hương và Vịnh Hạ Long viết:  Lời dẫn và lời thơ như sau:
“Mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468) tháng 2, ta thân đem đại quân ra duyệt trên sông Bạch Đằng. Ngày ấy gió đều cảnh đẹp; bể không nổi sóng. Ta bèn dong thuyền qua bể Hoàng Hải, đi tuần An Bang. Dừng chân dưới núi Truyền Đăng. Mài đá khắc một thơ Đường luật. Thơ rằng: Trăm sông chầu về đầm lớn và bể rộng; Núi bày ngan ngác như con cờ trên mặt biển biếc liền với chân trời. Lòng hăng hái mới cảm muốn thân hành tuần du; Sai tay thân tín ban lệnh truyền uy quyền đến phương xa. Nay quân hùng hổ bọc quanh như các sao vầy quanh Bắc cực (sao Bắc Đẩu). Xứ Hải Đông này được lửa binh dừng tắt và khói lang bặt dấu (khói bằng phân chồn  bốc cao thẳng đứng để báo tín hiệu khi chiến tranh). Núi sông trường cửu của trời Nam sờ sờ đó, Nầy là năm nên tu chính việc văn và thu xếp việc vũ.  Thiên Nam Động Chủ  đề (Dịch theo Hán văn trong tập Thiên tải Nhàm đàm của Đàm Nghĩa Am 1810).
Trăm sông chầu xuống bể đầm Đông,
Ngan ngác đảo xanh trời bể lồng.
Hăng hái tuần du lòng cảm thú,
Để trao biên trấn lệnh quyền công.
Quân hổ, lính chầu quanh Bắc Đẩu,
Binh lửa, khói lang tắt Hải Đông.
Còn mãi  trời Nam sông núi đó,
Năm chỉnh việc văn, duyệt võ công.
Nhất Uyên dịch thơ.
Trong Lịch Triều Hiến chương mục Đư địa chí của Phan Huy Chú có chép bài An Bang phong thổ:
“Đất Yên Quảng thì bể và núi nhiều, ruộng nương ít.Nghề buôn bán kiếm lời thì đua nhau, nghề cày cấy nuôi tằm thì lơ thơ. Thuế má đối với các trấn khác thì không đồng đều. Vua Lê Thánh Tông cò bài thơ Phong Thổ An Bang như sau: Trên bể những núi cao như cây ngọc dựng lên, Bày ngan ngác như sao, như con cờ, những ngọn màu xanh lởm chởm. Cá và muối là vật thường như đất, dân đua làm nghề trục lợi. Về lúa thóc thì không ruộng, thuế ma thu được ít. Sóng xông vào vách núi bắn tung lên, Thuyền len theo vách đá theo kẽ hở mà đi qua. Dân biên thùy bấy lâu vui hưởng thái bình và văn hóa. Hơn bốn mươi năm nay không biết việc binh đao.
PHONG THỔ AN BANG
Trên bể núi non như ngọc xanh,
Như cờ, sao  giữa nước mênh mông.
Vật thường cá muối, dân tranh lợi,
Ít  ruộng ít đồng, thuế thóc không.
Chân núi sóng xô tung bọt trắng.
Thuyền qua vách núi lách xuyên dòng.
Biên thùy dân hưởng thời bình thái.
Hơn bốn mươi năm chẳng việc binh.
Nhất Uyên dịch thơ
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
PHONG THỔ AN BANG
Hải thượng cao phong quần ngọc lập,
Tinh la kỳ bố thùy tranh vanh.
Ngư diêm như thổ dân xa lợi,
Hòa đạo vô điền thuế bạc chinh.
Ba hướng sơn bình đê xứ dũng,
Chu xuyên thạch bích kích trung hành.
Biên manh cửu lạc thừa bình hóa;
Tứ thập dư niên bất thức binh.

Hồng Đức Quốc Âm thi tập có chép bài thơ nôm Sông Bạch Đằng của Vua Lê Thánh Tông :
SÔNG BẠCH ĐẰNG
Lẻo đẻo duềnh xanh nước tựa dầu,
Trăm ngòi nghìn lạch chảy về chầu.
Rửa không thảy thảy thằng Ngô rái.
Dã mọi lâng lâng khách Việt hầu.
Nọ đỉnh Yên Kỳ dành rạch đó,
Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu ?
Bốn phương phẳng lặng kình bằng thốc ;
Thong thả dầu ta bỏ lưới câu.

Chú thích : Bài thơ có nhiều từ cổ
Duềnh : mặt nước chảy, thường trỏ sông. Không : hết nhẳn.  Rái : là sợ thành ngữ xưa : khôn cho người ta rái. Hầu : ý là phục. Yên kỳ : Núi Yên Tử tục truyền đời Hán có Yên Kỳ Sinh đến đó tu tiên đắc đạo. Ô Mã : Ô Ma Nhi (Omar), danh tướng có đạo Hồi của nhà Nguyên Mông bị quân Trần bắt rồi tha, nhưng khi đưa về đục đắm thuyền ở sông Bạch Đằng.Kình bằng thốc : tăm cá kình im bặt, không giặc giả. Dàu ta : mặc ta, tha hồ ta.
Trong Thiên Tải Nhàm đàm. Vua Lê Thánh Tông có bài: tả cánh núi Vịnh Hạ Long, hình như một vị tăng ngồi tham thiền.
VỊNH NÚI THẦY TIÊU
Truyền rằng Cửa Lục có Thầy Tiêu,
Ngồi tựa Câu loan nghe mối kêu.
Chuông kệch phó cho thằng nộm đóng,
Đèn tàn để mặc cái Dơi khêu.
Phẳng da trời sương lạt móc,
Dò dốn bể sóng in rêu.
Dù ai mà hỏi bao nhiêu tuổi,
Non nước bao nhiêu tuổi bấy nhiêu.
Chú thích: Câu loan:lan can. Mối: rắn mối, thứ tắc kè đây trỏ núi Đầu Mối. Chuông Kệch: chuông rất lớn chỉ Đảo Chuông. Thằng Nộm hình nhân giả người tên đảo Đóng. Đèn: trỏ núi Truyền Đăng. Khêu: đầy bấc lên cho ngọn đèn tỏ trở lại.
Hồng Đức Quốc Âm thi tập có chép bài
NÚI CHIẾC ĐŨA
Cắm chặt Nam minh nẻo thủa xưa,
Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa.
Triều lên rửa sạch tanh tao hết,
Nguồn xuống điều hòa mặn ngọt ưa.
Xóc xương kình  tăm chẳng động,
Dò lòng bể sóng khôn lừa.
Trời còn dành để An Nam mượn,
Vạch chước Bình Ngô mãi mới vừa.
Chú thích: Bài thơ có những từ liên quan đến chiếc đũa, đến sự ăn: cắm, tanh tao, mặn ngọt, xóc xương, dò lòng, vạch.
Vua Lê Thánh Tông qua động Hồ Công ở núi Xuân Đài, xã Thọ Vực, huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Động phía trước  hướng về sông Mã, trong động có hai tượng đá, tục truyền xưa kia có một ông già và một tiểu đồng đi hái thuốc ngồi nghỉ ở đó rồi tự nhiên biến mất. Người ta cho là hậu thân Hồ Công và Phí Tràng Phòng người đời Tây Hán, nên tạc tượng thờ. Vua Lê Thánh Tông cho động ấy là động thứ nhất trong 36 động nước Nam.
ĐỀ ĐỘNG HỒ CÔNG
Thần bào quỷ tạc núi muôn trùng;
Cửa động thênh thang vũ trụ thông.
Cuộc thế công danh như ảo mộng;
Bầu tiên nhật nguyệt thú vui cùng.
Hạt châu rơi hóa rồng đen lượn;
Giọt ngọc tuôn trời suối nước trong.
Muốn cỡi gió lồng lên đỉnh núi;
Trông vời mây nước vút tầng không.
Nhất Uyên dịch
Nguyên tác phiên âm Hán Việt
HỒ CÔNG ĐỘNG CẢM ĐỀ
Thần chùy quỷ tạc vạn trùng san,
Hư thất cao song vũ trụ khoan.
Thế thượng công danh đô thị mộng,
Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn.
Hoa dương long hóa huyền châu trụy,
Bích lạc tuyền lưu bạch ngọc hàn.
Ngã dục thặng phong lăng tuyệt lĩnh,
Vọng cùng vân hải hữu vô gian.

Paris 23-3-2015
PHẠM TRỌNG CHÁNH
Tiến sĩ Khoa học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

Cha mẹ hãy dạy con từ sớm

Cha mẹ hãy dạy con từ sớm 10 phép lịch sự tối thiếu này để tránh trở thành người “kém duyên” trong tương lai


Người xưa thường nói: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Việc hình thành nhân cách cho con ngay từ khi còn bé là điều rất quan trọng đối với những bậc làm cha mẹ. Đây là nền tảng cơ bản, để khi lớn lên con bạn trở thành một con người lịch sự và biết yêu thương mọi người.

1. Biết sử dụng câu “Vui lòng”, “Cảm ơn” và “Xin lỗi” đúng cách
Người Việt vẫn có câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Vì vậy mà những lời nói tưởng chừng đơn giản như: “Vui lòng”, “Cảm ơn”, “Xin lỗi” lại có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc giao tiếp hàng ngày.
Khi muốn nhờ vả người khác điều gì đó, trẻ cần phải biết cách nói “Vui lòng”, khi đã được giúp đỡ xong thì câu “Cảm ơn” là tuyệt đối không thể quên.
Và đặc biệt, lúc trẻ làm sai thì phải bày tỏ sự ăn năn hối lỗi bằng từ “Xin lỗi”.
Vì những câu nói này khá đơn giản nhưng đây chính là một trong những cách cơ bản nhất để thể hiện sự tôn trọng người khác. Bố mẹ không nên xem nhẹ và bỏ qua trong “cẩm nang” dạy con cái.
2. Không chỉ tay hoặc nhìn chằm chằm vào mặt người đối diện
Nên dạy cho con cách tôn trọng người khác mà đặc biệt là người lớn tuổi hơn bằng cách không chỉ tay vào người khác hay nhìn chằm chằm vào họ. Điều này sẽ khiến cho họ có cảm giác rất khó chịu.
Tuy nhiên, trẻ nhỏ còn chưa có nhận thức và suy nghĩ về việc này nên rất khó để thực hiện tốt việc này. Bố mẹ cần chỉ dạy cho con trẻ, đến khi lớn con sẽ hiểu được cảm giác và ắt sẽ không làm hành động khó coi này.
3. Che miệng khi ho hoặc hắt hơi
Đây cũng là một hành động thể hiện phép lịch sự nhưng lại rất ít bố mẹ để ý và nhắc nhở con cái.
Khi ho hoặc hắt hơi, sẽ có rất nhiều vi khuẩn theo đó bay ra, điều này gây không ít khó chịu cho những người xung quanh, đặc biệt là nơi đông người. Vì thế, hãy nhắc nhở, chỉnh sửa cho con để con thực hiện hành động này nhé!
4. Không cắt ngang khi người khác đang nói
“Người nói phải có kẻ nghe” nên việc cắt ngang khi người khác đang nói chuyện là một hành động vô cùng bất lịch sự.
Hơn nữa, nếu trẻ con mà hình thành thói quen này, chen ngang vào khi người lớn đang nói chuyện thì rất “Hỗn”. Có thể họ sẽ dựa vào đó để đánh giá cách dạy con của bố mẹ. Nên bố mẹ hãy nhắc con không được cắt ngang khi người khác đang nói, dù đó là người lớn hay bạn bè.
Nếu trong trường hợp buộc phải cắt ngang thì thay vì hét lớn để gây sự chú ý của người khác thì hãy chỉ cho trẻ cách xin phép được có ý kiến hoặc cắt lời nhé.
5. Dọn dẹp sau khi ăn xong
Người Việt thường cho rằng ai ăn sau thì đó sẽ là người dọn rửa.
Tuy nhiên nếu như khi trẻ ăn xong mà vẫn còn những người khác trong gia đình đang ăn hoặc chưa ăn thì trẻ cần phải biết tự thu dọn và sắp xếp bát đũa của mình.
Hãy tạo thói quen cho con trẻ, nếu như không làm được những việc nặng nhọc thì có thể nhắc con mang chiếc thìa, bát của con ra nơi dọn rửa sau bữa ăn.
6. Trả lời điện thoại đúng cách
Ngày nay, điện thoại là một vật vô cùng phổ biến với mọi gia đình và mọi người. Khi bố mẹ đang dở tay hoặc không ở nhà thì việc trẻ phải nghe điện thoại là điều khó tránh khỏi. Vì thế, hãy dạy cho con cách trả lời điện thoại sao cho lịch sự nhé.
Đối phương thường sẽ là những người lớn tuổi hơn nên câu đầu tiên mà trẻ cần phải nói sẽ là “Alo ạ”, khi biết trước người gọi là ai thì trẻ có thể nói luôn: “Cháu chào…. ạ”, “Bố/mẹ cháu đang bận, … có cần nhắn gì không ạ”,…
Đây đều là những câu nói khá đơn giản, dễ nhớ và dễ thực hiện kể cả khi trẻ còn rất nhỏ.
7. Tự giới thiệu bản thân đúng cách
Không chỉ sau này, khi đã lớn thì trẻ mới cần biết cách tự giới thiệu bản thân mà đây là điều trẻ cần biết dù còn nhỏ. Cho trẻ học cách giới thiệu bản thân để trẻ mạnh dạn hơn khi giao tiếp. Cũng là để phòng trường hợp con bạn bị lạc ở đâu đó.
8. Không bình phẩm, chê bai về ngoại hình của người khác
Trời sinh ra mỗi người một vẻ bề ngoài khác nhau và không phải ai may mắn để có được diện mạo xinh xắn, ưa nhìn.
Nhưng không phải vì thế mà người ta có quyền chê bai hay miệt thị ngoại hình của những người không được dễ coi.
Vì vậy, ngay từ khi còn nhỏ, bạn nên dạy cho trẻ thói quen không bao giờ bình phẩm, chê bai về ngoại hình của người khác để sau này chúng không “kém duyên” như thế.
9. Luôn gõ cửa hoặc hỏi ý kiến trước khi vào phòng
Ai cũng cần một khoảng không gian riêng tư và được người khác tôn trọng điều đó, kể cả trẻ nhỏ. Bạn không nên lấy lí do là vì con còn nhỏ nên có thể bỏ qua, hãy nhắc nhở con trẻ để chúng hình thành thói quen này. Bất kể là ở trong nhà hay khi đi đâu, trẻ cũng cần phải gõ cửa hoặc hỏi ý kiến trước khi muốn vào phòng người khác để giữ phép lịch sự.
10. Không chóp chép hoặc mở miệng khi nhai thức ăn
Giống như nhiều phép lịch sự khác, nhiều bố mẹ thường mặc định là trẻ con thì không cần để tâm những điều này. Thế nhưng mở miệng hoặc chóp chép khi nhai thức ăn lại là một hành động khiến những người ngồi ăn cùng cảm thấy khó chịu.
Trên đây là 10 thói quen giữ phép lịch sự mà bạn nên áp dụng để dạy con của mình khi chúng còn nhỏ. Nếu thấy hữu ích hãy chia sẻ để cho các bậc làm cha mẹ cùng biết nhé.
TAGS: 

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

'Không thể có đô thị đáng sống nếu lãnh đạo thiếu tầm nhìn'

'Không thể có đô thị đáng sống nếu lãnh đạo thiếu tầm nhìn'

Vị đại biểu Quốc hội cho rằng Hà Nội và TPHCM đã xảy ra những vấn nạn điển hình cho các đô thị quy hoạch kém trên thế giới.
Luật sư Trương Trọng Nghĩa. Ảnh: Trung tâm báo chí Quốc hội
Luật sư Trương Trọng Nghĩa. Ảnh: Trung tâm báo chí Quốc hội
- Là thành viên đoàn giám sát của Quốc hội, ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề đất đai đô thị hiện nay?
- Thành tựu là rất lớn và không thể phủ nhận trong toàn bộ quá trình khai thác tài nguyên đất đai. Nhà nước đã nỗ lực quản lý việc sử dụng đất đai bằng pháp luật, hình thành khung pháp lý và thể chế hành chính trong quản lý, sử dụng, chiếm hữu, chuyển nhượng đất đai nói chung và đất đai đô thị nói riêng. Nhiều đô thị với những công trình hiện đại phục vụ cho quốc kế, dân sinh ra đời, đóng góp không nhỏ cho ngân sách quốc gia và cho nhu cầu cuộc sống của người dân.
Nhưng cũng như nhiều lĩnh vực khác, rất tiếc, việc quản lý đất đai đô thị đã xảy ra những khuyết điểm nghiêm trọng. Lĩnh vực này chịu tác động của hai áp lực lớn là đô thị hóa và quá trình hình thành thị trường đất đai. Trước hai áp lực đó, nhiều cơ quan nhà nước lúng túng do thiếu kinh nghiệm, lại thêm luật pháp có những điểm chưa rõ ràng, chưa hợp lý, nên xảy ra không ít sai sót.
- Liên quan đến áp lực đô thị hoá, người dân ở Hà Nội và TP HCM hàng ngày phải đối mặt với tình trạng tắc đường và quá tải hạ tầng. Trong khi đó, cao ốc thương mại, chung cư vẫn mọc lên chủ yếu ở nội thành. Ông nghĩ sao?
- Việt Nam đã hội nhập với thế giới hơn 30 năm, có đủ kiến thức và năng lực quy hoạch và sử dụng đất đai đô thị nhằm tạo ra những đô thị đáng sống, có hạ tầng giao thông và kỹ thuật đầy đủ và hiện đại, môi trường sống văn minh, xanh sạch. Tuy nhiên, đất đai nhiều đô thị có tình trạng khai thác quá nhiều vào việc phát triển bất động sản, nhất là phân khúc cao cấp, vượt quá khả năng mua của đa số người dân; có xu hướng dồn nén vào nội đô để bán giá cao.
Trong khi đó, các hạ tầng giao thông và kỹ thuật, các công trình xã hội, không gian công cộng bị xem nhẹ, bỏ qua. Do đó, phần lớn các đô thị hiện nay, kể cả hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP HCM đã xảy ra những vấn nạn điển hình cho các đô thị quy hoạch kém trên thế giới là ngập nước thường xuyên, ô nhiễm nghiêm trọng và thiếu hụt trầm trọng phương tiện giao thông công cộng. Những vấn nạn này gây tổn thất lớn cho nền kinh tế, nhất là cho cuộc sống của người dân.
- Qua giám sát, đâu là những khuyết điểm, vi phạm liên quan đến đất đai đô thị đã được ghi nhận, thưa ông?
- Có thể kể đến như xây dựng trái phép hay vi phạm giấy phép xây dựng; quy hoạch đô thị chất lượng thấp, không bền vững; quy hoạch chi tiết thường xuyên bị điều chỉnh theo lợi ích của các chủ dự án, bất lợi cho lợi ích người tiêu dùng hoặc xã hội; tình trạng lấn sông, lấn biển, tư nhân hóa các bờ sông, bờ biển.
Ngoài ra, có tình trạng dự án xâm hại các di tích lịch sử, văn hóa, các khu bảo tồn; xâm hại môi trường; đặc biệt, tình trạng nhiều khu đất "vàng" thuộc nhà nước đã bị tư nhân hóa bằng cách cho thuê hay chuyển nhượng không đúng quy định, thấp hơn giá trị, gây tổn thất lớn.
- Nguyên nhân của các khuyết điểm, vi phạm đó là gì?
- Ở trên tôi đã đề cập một phần nguyên nhân khi nói đến hai áp lực đối với đất đai đô thị. Ngoài ra, đáng quan tâm, lo ngại và gây bức xúc lớn là tình hình thoái hóa, biến chất của nhiều cán bộ, công chức, kể cả ở cấp rất cao, thể hiện qua các vụ án lớn và các vụ kỷ luật đã và đang diễn ra.
Cán bộ, công chức tham nhũng đã tạo điều kiện, tiếp tay cho các nhóm lợi ích tiêu cực, các cá nhân xấu lũng đoạn quy trình pháp lý, làm thiên lệch cán cân lợi ích, đặc biệt là xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của rất nhiều tầng lớp nhân dân ở các vùng miền, địa phương; gây thiệt hại, tổn thất lớn cho lợi ích xã hội mà nhà nước là đại diện. Đây là nguyên nhân chính của nhiều vấn nạn, sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai ở đô thị.
Dự án bất động sản lấn sông Hàn (Đà Nẵng) đã được thành phố điều chỉnh quy hoạch giảm mật độ xây dựng nhà cao tầng. Ảnh: Nguyễn Đông.
Dự án bất động sản lấn sông Hàn (Đà Nẵng) đã được thành phố điều chỉnh quy hoạch giảm mật độ xây dựng nhà cao tầng. Ảnh: Nguyễn Đông.
- Thống kê lâu nay cho thấy đa số khiếu kiện liên quan đến đất đai, trong đó có đất đai đô thị. Ông suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?
- Rất tiếc là đã hơn 30 năm khai thác đất đai để phát triển đô thị, nhưng chúng ta vẫn chưa làm được một điều phải làm, đó là hài hòa lợi ích, trong đó, ưu tiên cho lợi ích của nhân dân, nhất là người dân bị mất đất. Nhiều quyết định về quy hoạch, về đền bù, tái định cư ở địa phương đã gây thiệt thòi và bất công cho lợi ích của người dân, trong khi đó lại giúp cho các chủ dự án hưởng lợi lớn. Thủ Thiêm là một ví dụ, nhưng còn rất nhiều "Thủ Thiêm khác" với quy mô lớn nhỏ ở nhiều tỉnh, thành khác.
Quy hoạch treo, dự án treo cũng là hiện tượng không phải cá biệt, có trường hợp kéo dài trên hai mươi năm, gây nhiều thống khổ cho người dân trong khu vực đó. Những sai phạm, thiếu sót trong quản lý, sử dụng đất đai đô thị gây bức xúc mạnh, làm xói mòn niềm tin của người dân.
Có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chính, bởi vì tất cả những chuyện nêu trên là thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước. Hài hòa, tôn trọng lợi ích của nhân dân và lợi ích của xã hội thì sẽ bớt khiếu kiện.
Đoàn giám sát cũng đã nhận thấy những điểm bất cập, bất hợp lý trong quy định về đất đai hiện hành, và đã tiếp nhận nhiều kiến nghị cụ thể của các doanh nghiệp, của cử tri, trong đó có vấn đề phương pháp tính giá đất (ví dụ, giá đất xác định chưa phù hợp với giá thị trường gây thất thoát nguồn thu ngân sách, dẫn đến khiếu nại của người có đất thu hồi). Đoàn đã trình bày trong báo cáo tổng hợp để Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu, sửa chữa, bổ sung các quy định pháp lý hiện hành, kể cả Luật Đất đai.
- Đến nay đã có 22 tỉnh, thành thực hiện dự án theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Ông nhận xét như thế nào về việc sử dụng tài sản công theo hình thức này?
- Theo tôi, vấn đề không phải là sử dụng tài sản công mà vấn đề là có sự trao đổi ngang giá hay không. Khác với BOT - nhà đầu tư thu hồi vốn thông qua việc khai thác và thu phí kéo dài nhiều năm, BT là nhà nước mua lại dự án khi xây dựng xong và trả tiền ngay, không có tiền thì trả bằng tài sản khác, như đất đai, tất cả đều là tài sản công. 
Tất nhiên, giá của dự án BT phải tính cả lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư. BT, cũng như các mô hình hợp tác công tư PPP khác, là những cách thức huy động vốn tư nhân vào phát triển hạ tầng, đã có kinh nghiệm tốt ở nhiều nước. Vì vậy, tôi nhấn mạnh, vấn đề là có sự tiêu cực trong tính toán, dẫn đến sự chênh lệch giá gây thiệt hại cho nhà nước hay không. BT giống như chiếc xe tốt, tai nạn là do người sử dụng xe, không phải do chiếc xe.
- Là đại biểu Quốc hội, đồng thời cũng là một luật sư, ông kiến nghị gì để việc quản lý đất đai đô thị ngày càng tốt hơn?
- Những kiến nghị của tôi đã phần nào được trình bày và tích hợp trong báo cáo giám sát. Tôi chỉ muốn nói thêm là: đất đai ở đô thị hay đất đai đô thị hóa là một nguồn tài nguyên lớn, một nguồn lực lớn để phát triển đất nước nếu chúng ta làm đúng. Phải xử lý hài hòa giữa lợi ích của xã hội, lợi ích của người dân và lợi ích của nhà đầu tư; lợi ích ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; lợi ích chính trị, kinh tế, xã hội. 
Có những quốc gia thành công, biến đất nước họ thành những đô thị và những làng mạc đáng sống cho người dân, và đó là điều kiện để phát triển bền vững. Không ít quốc gia ở các châu lục đã thất bại trong việc này, nguồn lực không còn nữa, sai lầm thì không sửa chữa được. Chúng ta hãy học tập những ví dụ tốt, nhưng muốn vậy, chúng ta phải có những nhà lãnh đạo có tầm nhìn hàng trăm năm, những cán bộ, công chức biết hành động và quyết định vì những lợi ích cao hơn cái ghế và túi tiền của mình.
Hoàng Thùy


Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Tên gọi Việt Nam xuất hiện cách đây 217 năm


Đúng 217 năm trước, nước ta lần đầu tiên được mang tên Việt Nam

B.T sưu tầm, SGK sử 10 | 

Đúng 217 năm trước, nước ta lần đầu tiên được mang tên Việt Nam

Sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, lập ra nhà Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân (Huế).  

TÊN GỌI "VIỆT NAM" LẦN ĐẦU XUẤT HIỆN
Xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước - chính sách ngoại giao
Sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, lập ra nhà Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Năm 1804, nhà Nguyễn đổi tên nước là Việt Nam, nhưng sau đó lại đổi thành Đại Nam.
Chính quyền trung ương được tổ chức theo mô hình thời Lê với sự gia tăng quyền lực của vua. Đất nước mới hợp nhất hai miền nên bước đầu vua Gia Long phải chia thành ba vùng : Bắc thành (gồm các trấn ở Bắc Bộ ngày nay), Gia Định thành (các trấn thuộc Nam Bộ ngày nay) và các Trực doanh do triều đình trực tiếp cai quản (Trung Bộ ngày nay). Chính quyền trung ương cai quản cả nước, song mỗi thành lại có một Tổng trấn trực tiếp trông coi. Các trấn, dinh vẫn giữ như cũ.
Năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng quyết định bỏ Bắc thành và Gia Định thành, chia cả nước làm 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Mỗi tỉnh đều có Tổng đốc, Tuần phủ cai quản cùng hai ti, hoạt động theo sự điều hành của triều đình. Các phủ, huyện, châu, tổng, xã vẫn giữ như cũ.
Đúng 217 năm trước, nước ta lần đầu tiên được mang tên Việt Nam - Ảnh 1.
Lược đồ cương vực lãnh thổ Việt Nam năm 1835 (thời vua Minh Mạng)
Ban đầu, quan lại được tuyển chọn từ những người trước đây theo Nguyễn Ánh ; về sau, giáo dục, khoa cử trở thành nguồn tuyển chọn chính. Chế độ lương bổng được quy định, nhưng không có phần ruộng đất. Mặc dù có một số quan lại thanh liêm, nhưng một bộ phận đáng kể đã trở nên thoái hoá như ở thời cuối Lê.
Một bộ luật mới được ban hành - Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Hoàng triều luật lệ hay Luật Gia Long) - gồm gần 400 điều, quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà nước và các tôn ti trật tự phong kiến.
Quân đội được tổ chức quy củ với số lượng khoảng 20 vạn người, được trang bị vũ khí đầy đủ, có đại bác, súng tay, thuyền chiến.
Đối với nhà Thanh, triều đình Nguyễn chịu phục tùng, nhưng đối với Lào và Chân Lạp lại bắt họ thần phục.
Trước sự nhòm ngó của các nước phương Tây, nhà Nguyễn chủ trương "đóng cửa", không chấp nhận việc đặt quan hệ với họ.
Tình hình kinh tế và chính sách của nhà Nguyễn
Đầu thế kỉ XIX, đất nước tạm trở lại yên bình trong thống nhất. Nền kinh tế tuy có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn.
Nông nghiệp lạc hậu, không có gì đổi mới, ruộng đất hoang hoá nhiều. Ngay từ năm 1804, nhà nước đã ban hành lại chính sách quân điền nhưng ruộng đất công chỉ còn khoảng 20% tổng diện tích ruộng đất.
Hơn nữa, theo chính sách, việc chia ruộng phải ưu tiên cho quan lại, quý tộc và binh lính. Nhà nước khuyến khích khai hoang bằng nhiều hình thức hoặc cho dân tự động tổ chức hoặc nhà nước góp vốn ban đầu cho dân mua sắm nông cụ, trâu bò, mở thêm nhiều đồn điền. Ruộng đất tăng thêm nhưng không nhiều.
Hằng năm, nhà nước cố gắng bỏ tiền, thóc, huy động nhân dân sửa đắp đê điều, nạo vét kênh mương, song vẫn không khắc phục được lũ lụt.
Người nông dân ra sức tăng gia sản xuất, duy trì cuộc sống ở làng quê. Hình ảnh "chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa" và "trông trời,trông đất, trông mây, trông mưa trông nắng, trông ngày trông đêm" vẫn là hình ảnh phổ biến ở nông thôn. Người nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng, chịu bóc lột nặng nề.
Việc trồng thêm các cây lương thực khác cùng diện tích trồng rau, đậu, hoa quả được mở rộng góp phần làm giảm đi cảnh đói nghèo.
Các nghề thủ công tiếp tục phát triển, đặc biệt là các nghề làm gốm sứ, kéo tơ, dệt vải lụa, nấu đường, khai mỏ.
Đúng 217 năm trước, nước ta lần đầu tiên được mang tên Việt Nam - Ảnh 2.
Đồng tiền Gia Long Thông Bảo (ghi ở mặt trước) thời Nguyễn, mặt sau ghi Thất phân.
Bộ phận thủ công nghiệp nhà nước được tổ chức với quy mô lớn, nhiều ngành nghề như đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, làm đồ trang sức, gạch ngói v.v... Thợ quan xưởng đã chế tạo được một số máy móc đơn giản, đặc biệt là đóng được tàu thuỷ chạy bằng máy hơi nước.
Năm 1839, "vua đi chơi ở cầu sông Ngự Hà (Huế) xem thí nghiệm thuyền máy hơi nước, thấy máy móc linh động, chạy đi nhanh nhẹ".
(Đại Nam thực lục)
Do nhu cầu của nhà nước, do chế độ công tượng hà khắc, sự tiếp cận với công nghiệp cơ khí chỉ dừng lại ở đây.
Trong nhân dân, các làng, các phường thủ công được tiếp tục duy trì nhưng do nhu cầu thị trường không còn như trước nên không phát triển. Một số làng nghề thủ công lại chịu sự quản chế của nhà nước. Tuy vậy, vẫn xuất hiện một số nghề mới.
Việc buôn bán trong nước phát triển chậm chạp và mang tính địa phương. Thuyền buôn đi xa bị đánh thuế nhiều lần, hơn nữa, nhà nước hằng năm còn trưng dụng một số thuyền của tư nhân để chuyên chở.
Nhà nước giữ độc quyền ngoại thương. Thuyền bè các nước láng giềng phía Nam chủ yếu chỉ được vào một số cảng ở Gia Định. Thuyền buôn các nước Anh, Pháp chỉ được vào cảng Đà Nẵng, bị khám xét nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nhà nước cũng bắt đầu cho một số thuyền của mình sang các nước láng giềng mua bán những mặt hàng cần thiết.
Các đô thị như Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà đều tàn lụi. Thăng Long vẫn còn giữ các phố phường, nhưng buôn bán sút kém.
Tình hình văn hoá - giáo dục
Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo, hạn chế hoạt động của các tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo. Tín ngưỡng dân gian tiếp tục phát triển. Đình làng, đền thờ mọc lên ở khắp các xóm làng.
Giáo dục Nho học được củng cố. Năm 1807, đã diễn ra khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn và năm 1822, khoa thi Hội đầu tiên được tổ chức. Tuy nhiên, số người đi thi và đỗ đạt không nhiều so với các thế kỉ trước.
Đúng 217 năm trước, nước ta lần đầu tiên được mang tên Việt Nam - Ảnh 3.
Lễ xướng danh trường thi Hương tại Nam Định năm Mậu Tí (1888)
Văn học chữ Hán kém phát triển. Trong lúc đó, văn học chữ Nôm ngày càng phong phú và hoàn thiện. Xuất hiện những tác phẩm văn học chữ Nôm xuất sắc như Truyện Kiều của Nguyễn Du, các bài thơ của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan...
Quốc sử quán được thành lập, chuyên sưu tầm, lưu trữ sử sách cổ và biên soạn các bộ sử chính thống. Nhiều nhà sử học cho ra đời các bộ sử, sách chuyên khảo như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Lịch triều tạp kì của Ngô Cao Lãng, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức v.v... Nhiều tập địa chí địa phương được biên soạn.
Về kiến trúc, nổi bật lên quần thể cung điện nhà vua ở Huế và các lăng tẩm. Rạp hát đầu tiên được xây dựng có sân khấu và phòng khán giả. Lị sở các tỉnh đều có thành luỹ xây theo kiểu Pháp cổ ; nổi lên ở thành Hà Nội là cột cờ được xây dựng cao đẹp.
Các ngành nghệ thuật dân gian tiếp tục phát triển theo các hình thức cũ.
Bài viết nhằm giúp cho độc giả nào chưa có điều kiện tìm hiểu lịch sử nước nhà có thêm kiến thức tham khảo, theo tinh thần "Dân ta phải biết Sử ta". Nguồn: SGK Sử lớp10 , tr 125-126-127-128-129.

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Một sớm xuân

Trang Thư viện xin giới thiệu một bài thơ của một tác giả nữ, gốc người làng Giữa, hiện sinh sống tại miền Nam. Bài thơ chị làm sau khi có một chuyến về thăm quê nói lên tình cảm tha thiết, tự hào  của một người con khi về đất Mẹ

MỘT SỚM XUÂN
Vui sao một sớm xuân về
Hân hoan gặp gỡ bạn bè thân thương
Thỏa lòng nhung nhớ vấn vương
Bấy lâu dồn nén tha hương đất người
Râm ran tiếng nói tiếng cười
Trà thơm quyện với tình người ấm sao
Hương xuân đọng thắm hoa đào
Tình quê nghĩa bạn nao nao tiếng lòng
Đây rồi giếng NGỌC nước trong
Chùa ÂN tích cũ lưu dòng khói nhang
Khang trang dưới xóm , trên làng
Lầu cao san sát, sống sang cảnh giầu
Tha hương đất khách bấy lâu
Thăm quê ngỡ lạc nơi đâu phố phường
Vẳng lời quan họ ca vương
Trầu têm mời khách tiếng thương ngọt ngào
Làng quê văn hiến đẹp sao
Văn phong , cốt cách thanh cao tình người
Ai về ĐẠI MÃO quê tôi
BẮC NINH - KINH BẮC ngàn đời lưu thơm
                                                  Thi Nguyêt Đô 31/3/2019